Quy luật an vòng sao Trường Sinh trong tử vi

Cách an vòng sao Trường Sinh là một bí ẩn nằm chồng lên bí ẩn Tam hợp cục trong tử vi. Đây là một kiến thức rất cần thiết cho người muốn xem số mệnh.

1. Vòng Tràng Sinh hay Trường Sinh là gì?

Vòng Tràng Sinh hay còn gọi là Trường Sinh, cũng có khi gọi là vòng Sinh – Vượng – Tử – Tuyệt của 10 thiên can. Đây là một chu kỳ 12 năm chi phối sự thịnh suy của mỗi con người.

Trường sinh: Giống như người vừa sinh ra hoặc là giai đoạn giáng sinh, tức là chỉ lúc vạn vật vừa mọc mầm.

Mộc dục: Là trẻ sơ sinh được tắm rửa để trừ uế bẩn, tức chỉ vạn vật vừa sinh ra đã được trời đất tắm gội.

Quan đái: Là trẻ em đã có thể mặc áo, đội mũ, là chỉ vạn vật đã dần dần mạnh lên.

Lâm quan: Như người đã trưởng thành cường tráng, có thể làm quan, lãnh đạo, dẫn dắt người khác, tức là chỉ sự vật đã trưởng thành.

Đế vượng: Tượng trưng cho người đã mạnh mẽ đến cực điểm, có thể giúp vua làm những việc lớn, tức là chỉ vạn vật đã thành thục.

Suy: Là chỉ vì đã cực thịnh nên khí bắt đầu suy, tức vạn vật bắt đầu suy biến.

Bệnh: Như người bị bệnh tật, tức là chỉ vạn vật lúc khốn đốn.

Tử: Là người khí đã hết, thân xác đã chết, hay vạn vật đã bị diệt.

Mộ: Là sau khi đã chết con người ta lại trở về với đất, tan ra trong đất (Các cụ xưa có câu: ”Sinh ra từ đất lại trở về với đất”).

Tuyệt: Như thể xác con người đã bị tan rã trở thành đất hay chỉ vạn vật khí trước đã tuyệt, khí tiếp sau còn chưa đến, chưa có hình hài gì trong đất.

Thai: Như con người nhờ khí của cha mẹ kết tụ thành thai, hay là chỉ lúc khí của trời đất giao nhau, sau đó khí được kết thành thai.

Dưỡng: Giống như thai người được mẹ nuôi trong bụng, sau đó được mẹ sinh ra, hay chỉ vạn vật được hình thành trong đất, sau đó phát mầm.

Cứ như thế, mọi vật đều trải qua quá trình tuần hoàn sinh sinh diệt diệt không ngừng. Mời bạn tham khảo: Vòng Tràng sinh là gì? Cách chọn năm sinh con hợp tuổi cha mẹ theo vòng Tràng sinh

2. Quy luật an vòng sao Trường Sinh trong tử vi

Quy luật an vòng sao Trường Sinh được thiết kế trên nền móng Tam hợp cục. Vị trí của các sao trong vòng Trường Sinh được phân bố theo cấu trúc của Tam hợp cục. Chỗ khởi Trường Sinh tùy thuộc vào Cục, mà Tử Vi Cục thì ăn vào Tam hợp cục. Hay nói cho rõ hơn:

Tử Vi Thủy Cục ăn vào Tam Hợp Thủy Cục Thân – Tí – Thìn.

Tử Vi Mộc Cục ăn vào Tam Hợp Mộc Cục Hợi – Mão – Mùi.

Tử Vi Hỏa Cục ăn vào Tam Hợp Hỏa Cục Dần – Ngọ – Tuất.

Tử Vi Kim Cục thì ăn vào Tam Hợp Kim Cục Tỵ – Dậu – Sửu.

Theo đó, vòng sao Trường Sinh được phân bố như sau:

Sinh – Vượng – Mộ của Tử Vi Thủy Cục ăn vào Thân – Tí – Thìn của Tam Hợp Thủy Cục.

Sinh – Vượng – Mộ của Tử Vi Mộc Cục ăn vào Hợi – Mão – Mùi của Tam Hợp Mộc Cục.

Sinh – Vượng – Mộ của Tử Vi Hỏa Cục ăn vào Dần – Ngọ – Tuất của Tam Hợp Hỏa Cục.

Sinh – Vượng – Mộ của Tử Vi Kim Cục ăn vào Tỵ – Dậu – Sửu của Tam Hợp Kim Cục.

Tất cả Thổ Cục trong Lục Thập Hoa Giáp gồm có: Canh Ngọ, Tân Mùi (Lộ Bàng Thổ), Mậu Dần, Kỷ Mão (Thành Đầu Thổ), Bính Tuất, Đinh Hợi (Ốc Thượng Thổ), Canh Tí, Tân Sửu (Bích Thượng Thổ), Mậu Thân, Kỷ Dậu (Đại Trạch Thổ), Bính Thìn, Đinh Tỵ (Sa Trung Thổ).

Luận theo tử vi thì nếu đương số là:

Thổ Cục thuộc vào nhóm đới Mộc tức là Thổ Cục Sửu/Dần/Mão (Thổ Cục Tân Sửu, Thổ Cục Mậu Dần, Thổ Cục Kỷ Mão), thì vòng Trường Sinh sẽ được an theo Mộc Cục.

Thổ Cục thuộc vào nhóm đới Hỏa tức là Thổ Cục Thìn/Tỵ/Ngọ (Thổ Cục Bính Thìn, Thổ Cục Đinh Tỵ, Thổ Cục Canh Ngọ), thì vòng Trường Sinh sẽ được an theo Hỏa Cục.

Thổ Cục thuộc vào nhóm đới Kim, tức là Thổ Cục Mùi/Thân/Dậu (Thổ Cục Tân Mùi, Thổ Cục Mậu Thân, Thổ Cục Kỷ Dậu), thì vòng Trường Sinh sẽ được an theo Kim Cục.

Thổ Cục thuộc vào nhóm đới Thủy, tức là Thổ Cục Tuất/Hợi/Tí (Thổ Cục Bính Tuất, Thổ Cục Đinh Hợi, Thổ Cục Canh Tí), thì vòng Trường Sinh sẽ được an theo Thủy Cục.

Các Cục khác luận đoán tương tự.

Chỉ an vòng sao Trường Sinh theo một chiều, đó là chiều kim đồng hồ, dù là Âm Nam hay Dương Nam, Âm Nữ hay Dương Nữ. Làm ngược lại sẽ vi phạm nguyên lý.

3. Ý nghĩa của các sao thuộc vòng Trường Sinh

Trường Sinh: Trong các sao Trường Sinh thì Trường sinh kỵ đồng cung với Không vong. Mệnh tọa Trường sinh là người trọng đạo lý, thông minh, ôn hòa, trường thọ. Chủ về mệnh được vinh hoa phú quý. Nếu ngày sinh và giờ sinh trùng nhau thì chủ về người có tính thông minh, nhanh nhẹn. Nếu thêm được cát thần cùng tương trợ thì tuổi trẻ thi cử đỗ đạt.

Cung Trường sinh nếu được tương phùng thì sinh ra sẽ được kế thừa cơ nghiệp tổ tông. Cha mẹ vợ con đều không khắc hãm, an nhiên hưởng phúc đến cuối đời.

Mộc Dục: Trong các cung Trường Sinh, đó là cung “đào hoa”, rất kỵ tọa Mão, Dậu, nếu lại thêm các sao đào hoa như Thiên diêu, Hàm trì, Hồng loan thì ắt sẽ vì tình dục quá độ mà chịu thương tổn. Cung Thân, Mệnh, Tài bạch, Điền trạch, Quan lộc mà tọa ở Mộc dục thì dễ vì tư tình mà dẫn đến phá tài, mất chức, nếu thêm Sát thì càng hung.

Mệnh tọa Mộc dục là người bảo thủ, cố chấp, ít nghe lời khuyên chân thành, thường hay để chuyện tình cảm gây rối rắm, phiền lụy, cuộc sống có phần hơi bấp bênh vì Mộc dục còn gọi là “Bại địa”.

Quan Đới: Trong các sao Trường Sinh, sao này chủ về vui mừng, ở mọi cung đều tốt, nhập Mệnh thì chủ về người hiếu thắng, yêu cầu cao, thích phê bình người khác, có toan tính, nỗ lực sẽ có danh vọng, uy quyền. Phàm việc gì cũng yêu cầu hà khắc, là người tự cao tự lợi, đều vì toan tính và làm lợi cho bản thân.

Lâm Quan: Sao này ở 12 cung đều tốt, nếu tọa Mệnh thì tay trắng lập nên nghiệp. Tuổi trẻ có phần vất vả, mọi chuyện không đẹp ý nhưng từ trung niên về sau sẽ thành công. Nếu có nhiều tiền dễ tổn thọ, nghèo thì thọ cao. Chuyện tình cảm không được tốt.

Đế Vượng: Sao này tọa Mệnh là người cao ngạo, làm việc gì cũng giữ riêng ý mình, thích cô độc một mình, không muốn dựa dẫm người khác, không vì người khác mà cúi đầu, lấy điều mình thích để sáng tạo, dễ đắc tội với người, cần trải qua khổ tâm, thử thách thì mới được thành công.

Suy: Trong các sao Trường Sinh, sao này nhập Thân, Mệnh thì thiếu tinh thần tranh đấu, là người nham hiểm, tính toan, ít hoạt bát, bề ngoài có vẽ lãnh đạm hờ hững nhưng trong lòng nóng vội, sốt sắng, thiếu nhẫn nại nên giữ thì được mà không thích hợp khai sáng nghiệp.

Mệnh nữ thì bề ngoài có vẻ văn nhã, dịu dàng nhưng nội tâm thì có phần giả tạo, dối trá, khó trải qua được thử thách và thất bại, ít có lòng nhẫn nại, dễ bỏ cuộc, nếu tọa Dậu thì càng rõ.

Bệnh: Sao này không ưa tọa cung Tật ách và thuở sơ vận vì nhiều bệnh, khó nuôi. Chủ về sự thích sự ảo tưởng, làm việc ít có tâm, không kiên trì. Thiếu thời và về già nhiều bệnh, tọa Mệnh thì dễ kết hôn hai lần hoặc tình duyên, tình cảm hôn nhân có biến cố, dễ bất hòa, mâu thuẫn, xung đột.

Tử: Sao Tử không ưa gặp Lão vận và Thiếu vận, dễ mắc bệnh. Nhập Mệnh, nhập hãm vì sẽ phát sinh nhiều việc liên quan đến pháp luật, hình khắc, phá tài, bệnh tật, làm việc không đến nơi, đến chốn, cố chấp, lỗ mãng, cứng đầu, khó thay đổi, quả đoán. Nếu có cát tinh thì sẽ tốt hơn một chút.

Mộ: Sao Mộ ưa tọa Tài bạch, Điền trạch, Quan lộc chủ về tập trung, thu thập. Mộ nhập Phúc chủ về an hưởng thanh phúc. Nhập Mệnh, chủ về trì trệ, cá tính hơi lập dị, ít quan tâm vẻ ngoài, tiết kiệm, làm việc có kế hoạch, đam mê nghiên cứu, làm việc chậm nhưng chắc, nếu có thể sống cởi mở, không ngừng nỗ lực thì có thể thành công.

Tuyệt: Trong các sao Trường Sinh, sao này tọa Mệnh là người cô độc, tọa tứ khố Thìn, Tuất, Sửu, Mùi càng rõ hơn, làm việc đầu voi đuôi chuột, qua loa và dễ chủ quan, tự đắc nếu gặp việc đắc ý. Nên sớm rời quê đến nơi khác làm ăn sẽ được phát triển, ít nhờ được lục thân. Thích nhập cung Tật ách, chủ về ít bệnh.

Thai: Sao này là cát tinh, không ưa đồng cung với Không Vong. Chủ về có thể phát triển, việc gì cũng làm cho lớn hơn, tăng thêm, tiến thêm cho nên kỵ nhập Tật ách. Nhập Mệnh là người khoan thai, thích mộng tưởng, đôi khi xa rời thực tế, hiếu kỳ, thích nghiên cứu, có óc hài hước, làm việc chú trọng đến môi trường.

Dưỡng: Sao chủ về phúc, ở cung nào cũng mang đến điều tốt, kỵ Không vong. Chủ về việc gì cũng có đôi chút bồng bột, rất có niềm tin vào cuộc sống. Ưa nhập Mệnh và vận trình thiếu niên, trung niên. Dưỡng là cửa của sinh, đại diện cho ý nghĩa phát triển, tự chủ, sáng nghiệp. Nhập Mệnh là người ngoan cường, chịu được khó khăn, vất vả nhưng thường tự cao tự đại, giao tiếp giỏi, nếu không ngừng nỗ lực có thể đạt được tiền tài và địa vị tuy nhiên không quá lớn.

Các nhà mệnh lý còn cho rằng, sau khi xác định được vòng Trường Sinh trong Tứ trụ, có thể xảy ra các trường hợp sau:

– Nếu có Thai, Trường Sinh, Đế Vượng, Mộ là có Tứ quý. Đây là người có số phận tốt đẹp.

– Nếu có Quan Đới, Lâm Quan, Dưỡng, Suy là có Tứ bình, người có số phận khá.

– Nếu có Tử, Tuyệt, Bệnh, Mộc Dục là Tứ kỵ, số không hay lắm.

– Nếu trong Tứ trụ có sao Tứ quý là tốt, lại thêm sao Thiên Ất, Quý nhân thì lại càng quý, nếu có Chính Tài, Chính Quan, Chính Ấn thì đây là người số quý hiển.

– Nếu trong Tứ trụ mà cột tháng có sao Tứ kỵ, cột ngày có sao Tứ quý; hoặc nếu cột ngày có sao Tứ kỵ, cột giờ có sao Tứ quý, cả hai ngược lại, đó là số người cuộc sống dần khá lên, vì quý kỵ gặp nhau sẽ hòa và bình nhau.

Thông tin trong bài viết chỉ mang tính tham khảo!

Theo tuvingaynay.com!

Bạn cũng có thể thích

Menu